Chuẩn bị ao và nước trước khi thả giống là công việc quen thuộc trong nhiều hình thức nuôi thủy sản. Với nuôi tôm, đặc biệt ở các mô hình bán thâm canh và thâm canh, người nuôi thường dành riêng một giai đoạn để xử lý và theo dõi nước trước khi thả giống, gọi là “nuôi nước”.
Nuôi nước bắt đầu từ lúc người nuôi cấp nước vào hệ thống ao và kéo dài đến khi môi trường đã sẵn sàng để nhận tôm giống. Trong thời gian này, người nuôi có thể lắng, lọc và xử lý nước đầu vào; điều chỉnh pH, độ kiềm, độ mặn; gây màu hoặc quản lý tảo; bổ sung vi sinh và theo dõi sự ổn định của các chỉ tiêu nước.
Cách nuôi nước thay đổi theo nguồn nước và mô hình nuôi. Có ao cần gây màu và quản lý tảo; có hệ thống tập trung nhiều hơn vào chất lượng nước, oxy và hệ vi sinh. Vì vậy, mỗi ao có cách chuẩn bị nước khác nhau, nhưng mục tiêu chung vẫn là đưa nước về trạng thái phù hợp và tương đối ổn định trước khi thả tôm.
Vì sao cần nuôi nước trước khi thả tôm?
Khi thả giống, tôm còn nhỏ, vừa trải qua đóng gói, vận chuyển và phải thích nghi với môi trường nước mới. Nếu nhiệt độ, độ mặn, pH hay oxy chênh lệch hoặc biến động mạnh, tôm phải chịu thêm áp lực ngay khi chuyển môi trường. Áp lực kéo dài có thể làm tôm giảm ăn, lột xác và tăng trưởng kém; biến động nghiêm trọng còn có thể làm tôm chết ngay từ đầu vụ.
Căng thẳng do môi trường cũng làm tôm giảm khả năng chống chịu trước các tác nhân bất lợi khác. Bệnh ở tôm chịu tác động của nhiều yếu tố; môi trường nước bất lợi có thể khiến vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn. Chuẩn bị nước trước khi thả giúp người nuôi xử lý trước những rủi ro có thể kiểm soát từ đầu vụ.
Sau khi cấp và xử lý, nước vẫn tiếp tục thay đổi: pH và oxy dao động theo ngày – đêm, tảo phát triển, màu nước thay đổi và các quá trình vi sinh tiếp tục diễn ra. Một lần đo đạt ngưỡng chưa đủ để kết luận ao đã sẵn sàng. Giai đoạn nuôi nước cho người nuôi thời gian theo dõi các biến động này và xử lý khi trong ao chưa có tôm.
Đây cũng là thời gian người nuôi dễ can thiệp nhất. Nếu pH còn dao động mạnh, màu nước phát triển không đúng hướng hoặc một chỉ tiêu vẫn lệch khỏi khoảng mục tiêu, người nuôi có thể tiếp tục điều chỉnh, xử lý lại nước đầu vào hoặc chờ thêm. Khi tôm đã xuống ao, mọi can thiệp đều phải thận trọng hơn vì còn phải tính đến tác động trực tiếp lên đàn tôm. Nhờ vậy, đàn tôm bắt đầu vụ nuôi trong điều kiện thuận lợi hơn cho tỷ lệ sống và tăng trưởng. Nuôi nước giúp giảm những rủi ro có thể xử lý từ trước, nhưng không bảo đảm năng suất cao hay ngăn được mọi dịch bệnh.
Quy trình nuôi nước ao tôm trước khi thả giống
Sau khi cải tạo và vệ sinh ao, người nuôi bắt đầu chuẩn bị nước qua 5 bước chính. Cách làm cụ thể thay đổi theo nguồn nước và mô hình nuôi.
1. Lấy nước, lắng và lọc
Người nuôi thường đưa nước vào ao lắng hoặc ao chứa trước, sau đó lọc qua lưới khi cấp vào ao nuôi để hạn chế cá tạp, trứng, ấu trùng và các sinh vật không mong muốn đi theo nguồn nước.
2. Xử lý nước và kiểm soát sinh vật tạp
Tiếp theo là xử lý nước và kiểm soát sinh vật tạp trước khi gây màu hoặc bổ sung vi sinh. Tùy nguồn nước và quy trình của trại, người nuôi chọn nhóm chất phù hợp, chẳng hạn chlorine/TCCA hoặc BKC. Mỗi chất có cách dùng và thời gian tác động khác nhau, nên người nuôi cần làm theo đúng quy trình của từng sản phẩm.
3. Kiểm tra và điều chỉnh các chỉ tiêu nền
Sau xử lý, người nuôi kiểm tra pH, độ kiềm, độ mặn, nhiệt độ và oxy hòa tan. Nếu chỉ tiêu nào lệch khỏi khoảng mục tiêu, người nuôi điều chỉnh trước khi sang bước tiếp theo. Nếu pH hoặc độ kiềm thấp, người nuôi có thể dùng CaCO₃, dolomite hoặc biện pháp phù hợp với tình trạng ao.
Sau khi điều chỉnh, người nuôi đo lại để kiểm tra các chỉ tiêu đã về khoảng mục tiêu hay chưa.
4. Gây màu nước nếu mô hình nuôi cần
Ao đất và những mô hình còn dựa một phần vào nguồn thức ăn tự nhiên trong ao thường chủ động gây màu trước khi thả. Với ao lót bạt, biofloc hoặc những hệ thống quản lý vi sinh chặt, người nuôi có thể không cần chủ động gây màu tảo. Nếu cần gây màu, người nuôi bổ sung nguồn dinh dưỡng phù hợp để tảo phát triển ở mật độ vừa phải.
Tảo phát triển quá dày có thể làm pH dao động mạnh và kéo oxy xuống thấp về đêm; tảo tàn đột ngột cũng khiến môi trường biến động. Vì vậy, gây màu chỉ nhằm tạo mật độ tảo vừa phải, không phải làm nước càng đậm càng tốt.
5. Bổ sung và tạo điều kiện cho hệ vi sinh
Trước khi bổ sung vi sinh, người nuôi cần bảo đảm không còn dư lượng chất khử trùng đã dùng trước đó. Với chlorine hoặc TCCA, người nuôi có thể kiểm tra chlorine dư bằng bộ test; với BKC hoặc các chất xử lý khác, người nuôi chờ đủ thời gian theo hướng dẫn của sản phẩm. Sau đó mới bổ sung vi sinh. Tùy mô hình, người nuôi có thể bổ sung thêm nguồn carbon như mật rỉ đường để hỗ trợ nhóm vi khuẩn dị dưỡng.
Sau khi bổ sung, người nuôi tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu nước trước khi quyết định thả giống.
Khi nào nước đã sẵn sàng để thả tôm?
Thời gian nuôi nước phụ thuộc vào chất lượng nước đầu vào, cách xử lý, thời tiết và cách gây màu hoặc quản lý vi sinh của từng ao. Vì vậy, quyết định thả giống cần dựa vào trạng thái thực tế của nước.
Với ao nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng, TCVN 13656:2023 đưa ra một số giá trị tham khảo cho nước đã xử lý cấp vào ao và nước trong ao nuôi:
| Chỉ tiêu | Giá trị theo TCVN 13656:2023 |
| Nhiệt độ | 26–32 °C |
| pH | 7,5–8,5; dao động không quá 0,5 trong ngày |
| Oxy hòa tan (DO) | 5,0–9,0 mg/L |
| Độ mặn | 7–25‰ |
| Độ kiềm (theo CaCO₃) | 80–120 mg/L với tôm sú; 100–200 mg/L với tôm thẻ chân trắng |
| Độ trong | 30–45 cm |
| Nitrit (NO₂⁻-N) | ≤ 1,0 mg/L |
| Ammoniac (NH₃) | ≤ 0,1 mg/L |
Các giá trị trên cho biết khoảng phù hợp của từng chỉ tiêu trước khi thả giống. Tuy nhiên, một lần đo nằm trong khoảng này vẫn chưa đủ để kết luận ao đã sẵn sàng. Người nuôi cần theo dõi qua nhiều lần đo để xem các chỉ tiêu có giữ ổn định hay tiếp tục dao động, đặc biệt với pH và oxy hòa tan.
Nếu nước vẫn biến động mạnh hoặc một chỉ tiêu còn lệch khỏi mức cần đạt, người nuôi tiếp tục xử lý và theo dõi thêm. Khi các chỉ tiêu đã đạt yêu cầu và giữ tương đối ổn định qua nhiều lần kiểm tra, người nuôi mới chuyển sang thuần tôm và thả giống.
Nuôi nước kết thúc khi ao thực sự sẵn sàng nhận đàn giống. Chuẩn bị kỹ giai đoạn này giúp giảm những rủi ro có thể xử lý từ trước và tạo nền tảng thuận lợi hơn cho những ngày đầu của vụ nuôi.
Nguồn tham khảo
Bộ Khoa học và Công nghệ. (2023). TCVN 13656:2023 Nước nuôi trồng thủy sản – Chất lượng nước nuôi thâm canh tôm sú, tôm thẻ chân trắng. https://tieuchuan.vsqi.gov.vn/tieuchuan/view?sohieu=TCVN+13656%3A2023
Boyd, C. E., McNevin, A. A., Racine, P., Tinh, H. Q., Minh, H. N., Viriyatum, R., Paungkaew, D., & Engle, C. (2017). Resource use assessment of shrimp, Litopenaeus vannamei and Penaeus monodon, production in Thailand and Vietnam. Journal of the World Aquaculture Society, 48(2), 201–226. https://doi.org/10.1111/jwas.12394
Briggs, M. (2009). Penaeus vannamei. In V. Crespi & M. New (Eds.), Cultured aquatic species fact sheets. Food and Agriculture Organization of the United Nations. https://www.fao.org/fishery/docs/CDrom/aquaculture/I1129m/file/en/en_whitelegshrimp.htm
Chen, Y.-H., & He, J.-G. (2019). Effects of environmental stress on shrimp innate immunity and white spot syndrome virus infection. Fish & Shellfish Immunology, 84, 744–755. https://doi.org/10.1016/j.fsi.2018.10.069
McCusker, S., Bolton Warberg, M., Davies, S. J., de Souza Valente, C., Johnson, M. P., Cooney, R., & Wan, A. H. L. (2023). Biofloc technology as part of a sustainable aquaculture system: A review on the status and innovations for its expansion. Aquaculture, Fish and Fisheries, 3(4), 331–352. https://doi.org/10.1002/aff2.108
- Millard, R. S., Ellis, R. P., Bateman, K. S., Bickley, L. K., Tyler, C. R., van Aerle, R., & Santos, E. M. (2021). How do abiotic environmental conditions influence shrimp susceptibility to disease? A critical analysis focussed on White Spot Disease. Journal of Invertebrate Pathology, 186, 107369. https://doi.org/10.1016/j.jip.2020.107369







